Bản in     Gởi bài viết  
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 về theo dõi tình hình thi hành pháp luật 

 

Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 32/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/07/2012 của Chính phủ về theo dõi tình hình thi hành pháp luật.

 

 

Nghị định số 32/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2012/NĐ-CP về theo dõi tình hình thi hành pháp luật có một số nội dung chính như sau:


Một là sửa đổi, bổ sung quy định về cộng tác viên theo dõi tình hình thi hành pháp luật cụ thể: Cộng tác viên theo dõi tình hình thi hành pháp luật được huy động để tham gia hoạt động thu thập, tổng hợp thông tin; điều tra, khảo sát; tham gia ý kiến về xử lý kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật; Cộng tác viên theo dõi tình hình thi hành pháp luật thực hiện theo chế độ hợp đồng theo từng vụ việc cụ thể, trừ trường hợp cộng tác viên theo dõi tình hình thi hành pháp luật là cán bộ, công chức, viên chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước.”


Hai là, sửa đổi, bổ sung quy định về xây dựng, ban hành Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật: Theo đó, hằng năm, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm xây dựng, ban hành Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật của bộ, ngành, địa phương, gửi về Bộ Tư pháp trước ngày 30 tháng 01 hàng năm để theo dõi, tổng hợp.


Bộ trưởng Bộ Tư pháp xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, ban hành Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực trọng tâm, liên ngành trước ngày 01 tháng 01 của năm kế hoạch.


Ba là kiểm tra việc thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật: Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp kiểm tra việc thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật theo các nội dung sau đây: Việc ban hành các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện theo dõi tình hình thi hành pháp luật; Việc bảo đảm các điều kiện về biên chế, kinh phí theo dõi tình hình thi hành pháp luật; Việc tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ về theo dõi tình hình thi hành pháp luật; Việc ban hành và tổ chức triển khai thực hiện các kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật; Công tác phối hợp theo dõi tình hình thi hành pháp luật; Việc xử lý kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật.”


Bốn là, sửa đổi, bổ sung quy định về thời hạn gửi Báo cáo về công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật của các Bộ, ngành, địa phương gửi Bộ Tư pháp phù hợp với quy định tại Nghị định 09/2019/NĐ-CP ngày 24/01/2019 của Chính phủ quy định về chế độ báo cáo của cơ quan hành chính nhà nước. Theo đó: Trách nhiệm của Bộ Tư pháp: Hằng năm báo cáo Thủ tướng Chính phủ về công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi cả nước chậm nhất vào ngày 25 tháng 12 của kỳ báo cáo. Thời gian chốt số liệu báo cáo tính từ ngày 15 tháng 12 của năm trước kỳ báo cáo đến ngày 14 tháng 12 của kỳ báo cáo.


Trách nhiệm của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ: Hằng năm báo cáo Bộ Tư pháp về công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật chậm nhất vào ngày 10 tháng 12 của kỳ báo cáo. Thời gian chốt số liệu báo cáo tính từ ngày 01 tháng 12 của năm trước kỳ báo cáo đến ngày 30 tháng 11 của kỳ báo cáo.


Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp: Hằng năm Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo Bộ Tư pháp về công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật chậm nhất vào ngày 10 tháng 12 của kỳ báo cáo.Thời gian chốt số liệu báo cáo tính từ ngày 01 tháng 12 của năm trước kỳ báo cáo đến ngày 30 tháng 11 của kỳ báo cáo.

 

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 5 năm 2020.


Tuấn Thành
 

[Trở về]